Văn Hóa

Nguyên do người Trung Hoa cổ yêu thích ngọc

Người Trung Hoa cổ xưa có một mối liên hệ rất sâu sắc với ngọc, bất luận là đeo trên người hay là bài trí trong nhà thì phần lớn đều có liên quan đến ngọc. Ngay cả những câu thành ngữ, tục ngữ cũng có rất nhiều câu nói đến ngọc như: Khi chúng ta hình dung một nữ tử rất mỹ lệ gọi là “đình đình ngọc lập”, hình dung một người nam tử rất khí khái gọi là “ngọc thụ lâm phong”. Điều này có thể thấy ngọc chiếm vị trí vô cùng đặc biệt trong văn hóa Trung Hoa.

Ngọc dùng để cúng tế

Ngọc (“玉”) trong chữ giáp cốt về tổng thể nhìn tựa như ba miếng ngọc được xâu trên một sợi dây. Ba là đại biểu cho nhiều, nên cũng được hiểu là nhiều miếng ngọc được xâu chuỗi với nhau bằng một sợi dây.

Liên quan đến ngọc còn có chữ lễ. Trong chữ Hán cổ, phần trên của chữ lễ (“礼” ) là hai chuỗi ngọc thạch, phần dưới là dụng cụ hiến tế. Điều này có ý nghĩa là hai chuỗi ngọc đẹp được đặt trên dụng cụ tế để thờ thần. Chính vì thế, ngọc lúc ban đầu là dùng để hiến tế. 

Trong “Thuyết văn giải tự”, tác giả Hứa Thận thời nhà Hán viết: “Ngọc, thạch chi mĩ giả”, tức ngọc chính là viên đá xinh đẹp. Ngọc ẩn nấp trong đá và phải mất hàng nghìn năm mới có thể hình thành. Ngọc hấp thụ tinh hoa của trời đất, nên được xưng là “Thạch chi vương” (vua của các loại đá). Dùng “Thạch chi vương” để cúng tế thần linh, tiến hành câu thông với thần linh. 

Trong cuốn “Chu Lễ” viết rằng: “Lấy ngọc làm lục khí để làm lễ bái thiên địa bốn phương: Lấy thương bích lễ trời, lấy hoàng tông lễ đất, lấy thanh khuê lễ phương đông, lấy xích chương lễ phương nam, lấy bạch hổ lễ phương tây, lấy huyền hoàng lễ phương bắc”. Thương bích là ngọc màu xanh hình tròn ở giữa có lỗ tròn, còn hoàng tông là ngọc màu vàng hình vuông ở giữa có lỗ tròn. Cổ nhân cho rằng trời tròn đất vuông cho nên dùng thương bích tế trời và hoàng tông tế đất.

Hơn nữa, về phương diện màu sắc cũng có sự nghiên cứu. Cổ nhân dùng màu sắc khác nhau để cúng tế phương vị khác nhau. Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ đối ứng với ngũ phương. Phương đông thuộc mộc đối ứng với màu xanh cho nên cổ nhân dùng thanh ngọc để cúng tế. Phía nam thuộc hỏa đối ứng với màu đỏ cho nên cổ nhân dùng ngọc đỏ để cúng tế. Phía tây thuộc kim đối ứng với màu trắng cho nên cổ nhân dùng ngọc trắng để cúng tế. Phía bắc thuộc thủy đối ứng với màu đen cho nên cổ nhân dùng màu đen để cúng tế. Ở giữa đối ứng với thổ, màu vàng nên dùng ngọc màu vàng để cúng tế.

Cổ nhân ngoài việc dùng ngọc để cúng tế thần linh ra thì còn biết dùng ngọc đến dàn xếp linh hồn. Người ta đã phát hiện ra ở trong những ngôi mộ cổ thường có rất nhiều thứ ngọc. Vũ Đinh là người triều Thương, phi tử của ông là Phụ Hảo, trong mộ Phụ Hảo đào được rất nhiều loại ngọc. Cho đến nay đây là ngôi mộ vương thất có nhiều ngọc thạch nhất thời Thương được phát hiện, bên trong có rất nhiều ngọc tông, ngọc khuê.

Ngọc dùng làm lễ khí

Cổ nhân ngoại trừ dùng ngọc để làm vật cúng tế ra còn dùng ngọc làm lễ khí. Triều nhà Chu rất coi trọng việc dùng lễ nhạc giáo hóa nên thường dùng chuông nhạc và khánh để diễn tấu. Khánh mà thời nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu sử dụng trong các buổi cúng tế đều được làm bằng ngọc thạch. Thanh âm mà ngọc phát ra vô cùng thanh thúy, trong trẻo và dễ nghe. Âm thanh của chuông ngọc cùng với tiếng đập của chuông đồng ăn khớp hòa nhịp với nhau, nên được gọi là “Ngọc chấn kim thanh”. 

Vào thời nhà Chu, khi thiên tử cùng chư hầu gặp nhau đều sẽ cầm ngọc khuê. Thân phận địa vị không giống nhau nên sẽ cầm ngọc khuê có chiều dài khác nhau. Triều nhà Chu có bộ phân chuyên môn quản lý ngọc, gọi là ngọc nhân. Chức trách của ngọc nhân chính là chế tác các loại ngọc khác biệt về hình dạng và cấu tạo cho thiên tử, các tầng lớp xã hội khác như công, hầu, bá, tử… sử dụng. Mục đích là dùng ngọc để phân chia thân phận.

Ngoài ra, có những loại ngọc thường được dùng làm vật tượng trưng cho hòa bình và hữu nghị. Thời cổ, khi hai nước xảy ra tranh chấp, không muốn xung đột xảy ra nên sẽ “biến chiến tranh thành ngọc và lụa” bằng cách tặng ngọc cho nhau để thể hiện mong muốn hòa bình và hữu nghị.

Ngọc cũng tượng trưng cho danh dự uy tín của Hoàng đế, bởi vì từ triều Tần đến triều Thanh, ấn chương của Hoàng đế đều là làm từ ngọc thạch, gọi là “Ngọc tỉ”. Sớm nhất là sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước đã sai người đem một khối ngọc khắc thành tỉ truyền quốc, lại lệnh cho Lý Tư khắc ở phía trên tám chữ triện, “Thụ mệnh vu thiên, kí thọ vĩnh xương”.

Ngọc dùng làm vật trang sức

Trong “Lễ ký ngọc tảo thiên” viết: Thời cổ, người quân tử thích đeo ngọc thạch. Khi tiến hay lùi, với sự chuyển động của bàn tay va chạm vào ngọc sẽ phát ra âm thanh trong trẻo dễ nghe. Vì vậy, người quân tử khi ngồi trên xe có thể nghe được tiếng chuông vang, còn khi đi bộ thì nghe được âm thanh của ngọc, như thế tai của họ liên tục nghe được chính âm của ngũ thanh, nhờ vậy mà những ý niệm bất chính hay quái dị sẽ không sản sinh ra. 

Ngọc thạch ôn hòa trơn bóng mang một vẻ đẹp tao nhã tựa như vẻ thanh nhã của hoa lan nên là vật trang sức mà cổ nhân rất yêu thích. Vô luận là về phẩm chất, màu sắc, hay cảm xúc, ngọc thạch đều phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của người phương đông, đặc biệt là tầng lớp thượng lưu, quý tộc thời xưa.

Cổ nhân yêu thích ngọc còn bởi vì ngọc tượng trưng cho phẩm đức. Khổng Tử từng nói: “Quân tử bỉ đức vu ngọc”, ông ví ngọc với người quân tử, đại biểu cho phẩm hạnh cao quý của người quân tử, gắn liền với người quân tử không tách rời. Cổ nhân đeo ngọc bên mình để thời thời khắc khắc nhắc nhở bản thân chú ý về lời nói và hành vi không được vượt quá phép tắc. 

Đạo gia cho rằng: “Thánh nhân bị hạt hoài ngọc”, ý nói bậc thánh nhân tuy rằng bề ngoài mặc quần áo giản dị thô xơ nhưng trong lòng ôm giữ ngọc quý, mượn ngọc để nhắc nhở chính mình, bảo hộ thiên tư của mình, không để lạc mất bản tính tiên thiên của mình. Đây cũng là dụng ý chính của việc cổ nhân mang ngọc bên mình.

Đăng nhận xét

Đăng nhận xét